“Nhà em ba tầng, máy lạnh mỗi tầng một cái, tiền điện cuối tháng giật mình; hàng xóm lắp mười mấy tấm, không biết nhà mình cần bao nhiêu mới vừa?” — đây là câu hỏi khiến nhiều chủ nhà chần chừ. Số tấm không có đáp án chung, nhưng anh chị có thể tự ước tính sơ bộ chỉ bằng hoá đơn điện và một lần lên mái đo. Bài này hướng dẫn cách tính hai đầu và chọn số ở giữa.
Nhà ba tầng thường dùng điện khác nhà một tầng: nhiều điều hoà, bình nóng lạnh, máy giặt, có khi cả bếp từ. Nhưng hai nhà ba tầng cạnh nhau vẫn có thể dùng điện chênh nhau gấp đôi, vì nhà đông người ở nhà ban ngày, nhà vợ chồng đi làm cả ngày.
Vì vậy số tấm hàng xóm lắp chỉ nên xem để tham khảo, đừng chép lại. Điều quyết định số tấm là hai thứ của chính nhà anh chị: lượng điện dùng và phần mái trống còn nhận được nắng.
Có người nghĩ mái còn trống bao nhiêu thì lắp bấy nhiêu cho “đỡ phí”. Lắp dư so với nhu cầu thì phần điện làm ra không dùng hết, không mang lại giá trị tương xứng với tiền bỏ thêm. Ngược lại, có người chỉ nhìn hoá đơn rồi đặt công suất lớn, đến lúc leo lên mới thấy mái không đủ chỗ.
Cả hai cách đều thiếu một đầu. Mái nhà ba tầng có tum cầu thang, bồn nước, cục nóng điều hoà, lối đi bảo trì, nên phần đặt được tấm thường nhỏ hơn con số trên giấy tờ nhiều.
Đầu thứ nhất là hoá đơn. Ví dụ minh hoạ, không phải số thật: cứ cho là nhà dùng khoảng 700 kWh mỗi tháng, tức cỡ 23 kWh mỗi ngày. Mỗi kWp ở miền Bắc tham khảo làm ra cỡ 3–3,5 kWh mỗi ngày. Nếu muốn bù cả ngày thì cần cỡ 6,5–7,5 kWp; còn nếu chỉ bù phần dùng ban ngày, cứ cho là khoảng 40% tổng điện, thì cần cỡ 2,5–3 kWp. Hai con số này là hai cận để anh chị cân nhắc.
Đầu thứ hai là mái. Tham khảo mỗi kWp cần khoảng 5–6 m² mái, và một tấm phổ biến rộng khoảng 2,2–2,6 m². Cứ cho là mái bằng 5 × 12 m, tức 60 m², trừ tum, bồn nước, lối đi và dải hay bị bóng nhà bên, còn khoảng 30 m² dùng được. Chia cho 5–6 m² mỗi kWp ra cỡ 5–6 kWp, tương đương khoảng 10–12 tấm (cứ coi mỗi kWp cỡ hai tấm, tuỳ công suất từng tấm).
Nhà trong ví dụ nằm giữa hai cận 3 kWp và 7 kWp, mái cho phép tối đa 5–6 kWp. Chọn khoảng 4–5 kWp, tức cỡ 8–10 tấm, là một điểm vừa phải để cân đối giữa tiền bỏ ra, chỗ đặt và lượng điện thực sự dùng hết. Nhà dùng nhiều điện ban ngày có thể lên cao hơn, nhà vắng cả ngày nên xuống thấp hơn.
Mái bằng bê tông cho anh chị chủ động hướng và độ nghiêng: khung có thể đặt nghiêng về phía Nam, nhưng phải trừ phần khoảng cách giữa các hàng để tấm không che nhau, nên diện tích mỗi kWp lớn hơn tấm nằm sát mặt mái. Khung cần neo chắc vào dầm hoặc đế đủ nặng, và nên nhờ người có chuyên môn xem sàn mái chịu thêm tải được không.
Mái tôn thì tấm bám theo độ dốc có sẵn, đếm tấm đơn giản hơn nhưng phụ thuộc hướng dốc: mái quay về phía Nam thuận lợi, mái dốc về phía Bắc sản lượng sẽ hụt rõ, nên cân nhắc kỹ. Mái tôn cũ, xà gồ mục hoặc tôn gỉ cần gia cố hoặc thay trước, nếu không thì chưa nên lắp lên.
Thật thà là trường hợp mái quá nhỏ, bị che gần trọn buổi, hoặc nhà dùng rất ít điện thì lắp điện mặt trời chưa chắc đáng; khi đó nên tính lại hoặc để sau.
Lấy hoá đơn điện sáu tháng gần đây, ghi số kWh từng tháng, rồi chia số trung bình cho 30 để ra kWh mỗi ngày. Ước chừng một nửa hoặc ít hơn dùng lúc có nắng, tuỳ nhà có người ở ban ngày hay không.
Lên mái đo chiều ngang, chiều sâu, trừ tum, bồn nước, cục nóng và lối đi, chụp ba tấm ảnh từ các góc nhìn thấy nhà cao bên cạnh. Chia diện tích còn lại cho 5–6 m² sẽ ra số kWp tối đa mái cho phép; so với số tính theo hoá đơn, lấy số nhỏ hơn làm điểm xuất phát.
Nếu anh chị đã có số kWh và vài tấm ảnh mái, cứ gửi cho đội kỹ thuật ANH TÚ SOLAR để được ước tính giúp số tấm và chỉ ra chỗ bị bóng che, kể cả khi anh chị chưa quyết lắp.
Muốn có con số chắc hơn, anh chị nhắn đội kỹ thuật để hẹn khảo sát mái, kiểm tra kết cấu và tính theo hoá đơn thực tế. Bấm nút gọi hoặc nhắn Zalo ngay dưới bài.
Gửi hóa đơn tiền điện — anh Tú khảo sát & báo giá miễn phí, tính hoàn vốn theo số thật của nhà bạn.
Hoặc xem trước dịch vụ phù hợp với nhà mình →
💳 Chưa muốn bỏ một lần? Trả góp tới 100 triệu — xem mỗi tháng góp bao nhiêu